Nghiên cứu sự kiện – Event Study Reports

Phương pháp nghiên cứu sự kiện (Event Study) là một phương pháp trong nghiên cứu định lượng để phân tích mức độ và chiều hướng tác động của sự kiện đến thị trường. Ngày nay, Event Study được áp dụng rộng rãi trong tài chính, quản lý, và cả khoa học chính trị. Bài viết này sẽ lược sử các bài báo quan trọng sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện từ đó giúp các bạn hình thành ý tưởng nghiên cứu. Cơ sở lý luận, phương pháp thực hiện, kiểm định kết quả của phương pháp nghiên cứu sự kiện, cũng như ví dụ minh họa sẽ lần lượt được trình bày ở các bài liên quan.

Các nghiên cứu về Event Study

Phương pháp nghiên cứu sự kiện (Event Study) được áp dụng phổ biến trong việc đánh giá tác động của các sự kiện như mua bán sát nhập, thay đổi nhân sự cao cấp, thay đổi (tách/gộp) cổ phiếu, các sự kiện hoặc tin đồn quan trọng khác đến hoạt động của doanh nghiệp và thị trường. Bài viết này sẽ giới thiệu nội dung cơ bản của phương pháp. Những vấn đề này sẽ được tóm lược theo thời gian qua những bài báo nghiên cứu sau:

Dolley (1933)[1] đã nghiên cứu sự thay đổi của giá trị cổ phiếu khi tách cổ phần với việc sử mẫu của 95 trường hợp tách cổ phần giai đoạn 1921 – 1931, ông đã tìm ra rằng giá cổ phiếu có sự tăng lên trong 57 trường hợp và giá có sự giảm sút trong 26 trường hợp khác.

Sau đó, Event Study chuẩn tắc được giới thiệu rộng rãi cho các nhà nghiên cứu tài chính trong hai bài nghiên cứu của Ball và Brown (1968)[2] và Fama và French (1969)[3]. Từ đó, Event Study đã trở nên phổ biến trong nhiều nghiên cứu về thị trường vốn. Các phương pháp cải tiến của Event Study tiếp tục được đề xuất, nhưng các yếu tố cốt lõi trong phương pháp vẫn không thay đổi.

Năm 1983, nghiên cứu do Jensen và Ruback (1983)[4] thực hiện với đối tượng là các nhà đầu tư của các công ty. Kết quả cho thấy các nhà đầu tư đã thu được lợi nhuận bất thường dương đáng kể, khoảng 30% khi có các sự kiện xảy ra. Trong một số trường hợp, các nhà đầu tư nhận được một ít lợi nhuận khi việc sáp nhập được công bố chính thức nhưng lại mất đi lợi nhuận khi cuộc sáp nhập không thành công. Đối với các công ty khác, nghiên cứu không đưa ra được bằng chứng cho thấy sáp nhập sẽ làm tăng lợi nhuận.

Trifts và Scanlon (1987)[5] tính toán tác động của các sáp nhập ngân hàng liên bang lên lợi nhuận cổ phần. Hai ông đã công bố kết quả lợi nhuận bất thường dương đáng kể đối với các công ty mới nổi hoặc các ngân hàng mục tiêu. Giá cổ phần của ngân hàng mới nổi trong thực tế lại tăng trưởng khoảng 20%. Tuy nhiên, đối với các ngân hàng mới nổi, nghiên cứu này đã thất bại trong việc chỉ ra dòng lợi nhuận bất thường đáng kể, tương tự trong trường hợp các công ty sản xuất.

Trong một nghiên cứu khác sử dụng mẫu số liệu rộng hơn. Trifts và các tác giả (1988)[6] nghiên cứu 153 vụ sáp nhập ngân hàng và những dòng lợi nhuận bất thường của cả những ngân hàng mục tiêu và ngân hàng thu mua. Họ công bố khoảng lợi nhuận 9% đối với các nhà đầu tư của ngân hàng mới nổi – không lớn đến mức gần 20% trong tăng trưởng giá cổ phần nhưng trong nghiên cứu của Trifts và Scanlon[5]. Tuy khác nhau về con số lợi nhuận tính toán với các bằng chứng chắc chắn và rất thuyết phục, cho thấy các nhà đầu tư của các ngân hàng mới nổi đều thu hút được lợi nhuận trong các vụ sáp nhập ngân hàng liên bang.

Vì những thay đổi trong luật và quy định có thể ảnh hưởng đến cách thức điều hành doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận (kể cả lợi nhuận bất thường) của công ty. Dann va James (1982)[7] nghiên cứu tác động của quy định bỏ lãi suất tiền gửi trần đối với giá cổ phần của công ty của công ty cổ phần S&Ls. Họ phát hiện ra một dòng lợi nhuận bất thường lũy kế âm khoảng 8% sau 15 ngày từ khi lãi suất tiền gửi trần bị thay đổi. Điều này không gây ngạc nhiên vì các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm thu được lợi nhuận thuần từ lãi suất tiền gửi thông thường dưới dạng các khoản tiền gửi có chi phí thấp hơn. Kết quả là lợi nhuận từ các khoản tiền gửi chi phí thấp này được nhấn mạnh trong giá của các khoản tiết kiệm. Do đó, khi lãi suất tiền gửi trần bị loại bỏ, giá của các khoản tiết kiệm giảm xuống.

Trong một nghiên cứu khác tập trung vào ngành ngân hàng, Smirlock (1984)[8] xem xét sự loại bỏ lãi suất tiền gửi trần trong gia đoạn 1970 – 1978, để xem lợi nhuận cổ phần của ngân hàng có phản ứng lại trước những sự kiện bất thường hay không. Sử dụng dữ liệu thu thập từ 17 ngân hàng lớn, Smirlock thấy rằng lợi nhuận cổ phần của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi lãi suất tiền gửi trần. Kết quả này hoàn toàn trái ngược với kết quả của Dann và James với S&Ls. Tuy nhiên, kết quả khác biệt này của Smirlock có thể do nghiên cứu này tập trung vào các ngân hàng quy mô khá lớn. Vốn là những ngân hàng không phụ thuộc vào lãi suất tiền gửi trần bảo đảm trong việc thu hút lượng tiền gửi.

Nghiên cứu sự phá sản của ba ngân hàng liên bang quốc gia (bang San Diego năm 1973, bang New York năm 1974 và bang Tennessee năm 1976), Aharony và Swary (1983)[9] xem xét sự phản ứng của lợi nhuận cổ phần ngân hàng qua dư liệu về lợi nhuận của những ngân hàng khác. Dữ liệu bao gồm 73 ngân hàng thương mại: 12 ngân hàng lớn, 31 ngân hàng trung bình (với tổng số tiền gửi khoảng 5 tỷ USD) và 30 ngân hàng nhỏ hơn (với tổng số tiền gửi khoảng 1 tỷ USD). Lợi nhuận cổ phần của những ngân hàng này thể hiện phản ứng không đáng kể trước thông tin về sự phá sản của ba ngân hàng lớn.

Sau này, Lamy và Thompson (1986)[10] nghiên cứu sự ảnh hưởng của thông tin xấu đến sự phá sản năm 1982 của ngân hàng Penn Square bang Oklahoma. Họ công bố một dòng lợi nhuận bất thường âm khoảng 1% vào ngày ngân hàng Penn Square bị đóng cửa trong mẫu dữ liệu gồm 45 ngân hàng lớn có giao dịch ở TTCK New York hoặc Mỹ – kết quả này có liên quan đến nhận thức của thị trường rằng vào thời điểm phá sản của mình, Penn Square có quan hệ giao dịch phức tạp với rất nhiều ngân hàng lớn khác. Do đó, dù chỉ là một ngân hàng trung bình nhưng sự phá sản của Penn Square lại có tác động xấu đáng kể, đơn giản chỉ vì những quan hệ của nó với nhiều ngân hàng khác lớn hơn.

Phần bên dưới giới thiệu về ảnh hưởng của tin đồn đến lợi nhuận bất thường và vận dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện ở thị trường tài chính – chứng khoán Việt Nam.

Một thông tin xấu khác cũng thu hút sự chú ý của thị trường là công bố của Citicorp vào năm 1987. Nội dung công bố cho biết Citicorp đã gia tăng các khoản nợ thu hồi được từ các khoản nợ khu vực Mỹ – Latinh. Grammatikos và Saunders (1988)[11] nghiên cứu tác động của thị trường này và những thông tin sau đó từ các ngân hàng Mỹ có doanh mục nợ lớn với khu vực Mỹ – Lating. Sử dụng dữ liệu gồm 112 ngân hàng Mỹ, các nhà nghiên cứu thấy rằng công bố của Citicorp chỉ có tác động âm rất nhỏ đến lợi nhuận của các ngân hàng khác.

Trong khi đó, một nghiên cứu khác khảo sát 12 ngân hàng lớn do Madura và McDaniel (1995)[12] cho thấy các thị trường chứng khoán ngân hàng đã dự đoán được thông tin từ Citicorp. Ngược lại, ở nghiên cứu của Musumeci và Sinkey (1988)[13], tác động thông tin này lại được chứng minh là sát thực với Citicorp và một mẫu gồm 25 công ty trong lĩnh vực ngân hàng. Tất cả những nghiên cứu này đều cho thấy thông tin từ Citicorp tác động đến hầu hết các ngân hàng lớn. Điều này cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu trước đó thông tin từ các vụ phá sản của các ngân hàng trong thập niên 1980 tác động lớn đến các ngân hàng đang hoạt động trong thời kỳ đó.

HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA EVENT STUDY TẠI VIỆT NAM

Mặc dù nghiên cứu sự kiện với phương pháp Event Study xuất hiện khá lâu trên thế giới nhưng phương pháp này chưa phổ biến ở Việt Nam và rất ít nghiên cứu công bố trên các tạp chí uy tín có sử dụng đến các phương pháp này. Đây có thể là một hướng nghiên cứu tốt, khả thi đối với các bạn sinh viên, học viên cao học khi thị trường tài chính Việt Nam đang tồn tại khá nhiều SỰ KIỆN.

Nguồn: Trần Thị Tuấn Anh và cộng sự (2013)[14]

BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

1. Dolley, J., C. (1933). Characteristics and procedure of common stock split-ups. Havard bussiness review, 11, pp.316-26.
2. Ball, R. and Brown, P. (1968). An empirical evaluation of accounting income numbers. Journal of Accouting research, 6(2), pp.159-78.
3. Fama, E., F. and French, K., R. (1969). Multifactor explanations of Asset pricing Anomalies. Journal of Finance, 51(1), pp.58-84.
4. Jensen, M., C. and Ruback, R., S. (1983). The market for corporate control: the scientific evidence. Journal of Financial, Economics, 11, pp.5-50.
5. Trifts, J. and Scanlon, K. (1987). Interstate bank mergers: the early evidence. Journal of Financial Research, 10, pp.305-11.
6. Trifts, J., De Cossio, F. and Scanlon K., P. (1988). Bank equity returns: the difference between Interstate and Interstate bank mergers, proccedings of a conference on bank structure and competition, pp.591-600.
7. Dann, L., Y. and James, C., M. (1982). An Analysis of the impact of deposit rate ceilings on the market values of thrift institutions. Journal of Finance, 37(5), pp.1259-75.
8. Smirlock, M. (1984). An analysis of bank risk and deposit rate ceilings: evidence from the capital markets. Journal of Monetary Economics, 13, pp.195-210.
9. Aharony, J. and Swary, I. (1983). Contagion effects of bank failures: Evidence from capital markets. Journal of Bussiness, 56, pp.305-22.
10. Lamy, R. and Thompson, G., R. (1986). Penn Square, Problem loans, and insolvency risk. Journal of Financial Research 9, pp.103-11.
11. Grammatikos and Saunders, A. (1988). Addition to bank loan-loss reserves: good news or bad news?. New York university working papper.
12. Madura, J. and McDaniel, W. (1995). Market reaction to increased loan-loss reserves at Money-Center Banks. Journal of Financial Services Research.
13. Musumeici, J. and Sinkey, H. (1988). The international bebt crisis and the signalling content of bank loan – loss reserve decisions. University of Geogria Working Paper.
14. Trần Thị Tuấn Anh, Trần Công Phú Khánh, Nguyễn Minh Luân, Trần Ngọc Minh Quân, (2013). Phân tích tác động của sự kiện ngày 21/8/2012 đến các chứng khoán ngân hàng ở Việt Nam. Tạp chí Công Nghệ Ngân hàng, 93 (tháng 12), pp.8-15.

Thẻ

Bài liên quan

Back to top button
Close
Close