Hướng nghiên cứu

Lợi nhuận bất thường và tính thanh khoản của cổ phiếu

3.4 Thanh khoản của cổ phiếu với sự kiện thông báo chia tách cổ phiếu.

Thanh khoản của cổ phiếu được đo lường phổ biến theo tỷ lệ doanh thu (Datar và các tác giả, 1998), chỉ số kém thanh khoản (Amihud, 2002) khối lượng giao dịch hoặc chênh lệch giữa giá mua và giá bán (bid-ask spread) (Elfakhani và Lung, 2003). Do cơ chế giao dịch của Việt Nam là theo cơ chế đặt lệch và không có các nhà tạo lập thị trường nên phương pháp xác định thanh khoản của cổ phiếu bằng chênh lệch giữa giá mua và giá bán theo Elfakhani và Lung (2003) không phù hợp.

Trong bài báo cáo này, nhóm tác giả sử dụng 3 chỉ số đại diện cho tính thanh khoản của cổ phiếu: khối lượng giao dịch (Volume), tỷ lệ doanh thu (Turnover) và chỉ số thanh khoản (\(ILLI{Q_{inverse}}\)) được tính bằng nghịch đảo của chỉ số kém thanh khoản tính theo Amihud (2002).

  • Volume: là khối lượng giao dịch giống như Elfakhani và Lung (2003), ở trong bài báo này, nhóm tác giả tính Volume bằng logarit của tổng khối lượng giao dịch 5 ngày trước và 5 ngày sau thông báo chia tách, sau đó tính Volime-Ratio bằng Volime bằng 5 ngày sau chia cho 5 ngay trước thông báo chia tách.
  • Turnover được tính theo phương pháp của Datar và các tác giả (1998), tương tự nghiên cứu của Võ Xuân Vĩnh và Lê Thị Kim Phượng (2014): \(Turnove{r_{i,t}} = \frac{{Volum{e_{i,t}}}}{{Total{\rm{ }}Share{\rm{ }}Outstandin{g_{i,t}}}}\)

Trong đó,

– \(Turnove{r_{i,t}}\) là chỉ số đại diện cho tính thanh khoản của cổ phiếu i tại thời điểm t,
– \(Volum{e_{i,t}}\) là khối lượng giao dịch của cổ phiếu i tại thời điểm t và
– \(Total{\rm{ }}Share{\rm{ }}Outstandin{g_{i,t}}\) là tổng cổ phiếu đang lưu hành của cổ phiếu i tại thời điểm t. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tính tổng Turnover 5 ngày trước và 5 ngày sau thông báo chia tách, sau đó tính Turnover-Ratio bằng cách lấy Turnover 5 ngày sau chia cho 5 ngày trước thông báo chia tách.

  • \(ILLI{Q_{inverse}}\) là chỉ số đại diện cho tính thanh khoản, được tính bằng nghịch đảo của chỉsố kém thanh khoản (ILLIQ) theo Amihud (2002).
  • \(\begin{array}{l}ILLI{Q_{i,t}} = \frac{1}{{{D_{it}}}}\sum\nolimits_{t = 1}^{{D_{it}}} {\frac{{\left| {{R_{itd}}} \right|}}{{DVO{L_{ivttd}}}} \times {{10}^6}} \\ILLI{Q_{invers{e_{it}}}} = \frac{1}{{ILLI{Q_{it}}}}\end{array}\)

Trong đó,

– \({D_{it}}\) là số ngày trong giai đoạn mà dữ liệu có sẵn cho chứng khoán i,
– \({R_{itd}}\) là lợi nhuận của cổ phiếu i vào ngày d trong giai đoạn t và
– \(DVO{L_{ivttd}}\) là khối lượng giao dịch hàng ngày tính bằng tiền của cổ phiếu i, được tính bằng công thức \(DVO{L_{ivttd}} = {P_{it}} * Volum{e_{it}}\) với \({P_{it}}\) là giá cổ phiếu i tại thời điểm t và
– \(Volum{e_{it}}\) là khối lượng giao dịch của cổ phiếu i tại thời điểm t.

Ở trong bài báo này, \(ILLI{Q_{inverse}}\) được tính cho giai đoạn 5 ngày trước và 5 ngày sau thông báo chia tách, sau đó tính \(ILLI{Q_{inverse}}\) – Ratio bằng \(ILLI{Q_{inverse}}\) giai đoạn 5 ngày sau chia cho 5 ngày trước thông báo.

Các phương pháp kiểm định được áp dụng trong phần này tương tự như kiểm định CAAR đã trình bày ở trên.

Lợi nhuận bất thường và tính thanh khoản của cổ phiếu với sự kiện thông báo chia tách cổ phiếu

Tương tự nghiên cứu của Chern và các tác giả (2008), nhóm tác giả xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận bất thường và tính thanh khoản của cổ phiếu dựa trên mô hình sau:

\(AB{T_i} = {\beta _o} + {\beta _1} * LI{Q_i} + {\beta _2} * ZIS{E_i} + {\beta _3} * B{M_1} + {\beta _4} * BET{A_i} + {\varepsilon _{it}}\)

Trong đó:

  • \(AB{T_i}\) là lợi nhuận bất thường của cổ phiếu i;
  • \(ZIS{E_i}\) là quy mô công ty i được tính bằng logarit tự nhiên của vốn hóa thị trường tại ngày thông báo chia tách cổ phiếu;
  • \(B{M_1}\) là giá trị sổ sách trên thị trường của cổ phiếu i, lấy theo giá trị của năm trước năm sảy ra thông báo chia tách;
  • \(BET{A_i}\) là hệ số beta của cổ phiếu giai đoạn trước thông báo [-100, -15].

Để kiểm tra độ bền (robustness) của kết quả nghiên cứu, hay cụ thể hơn là để xem xét sự thay đổi của mối quan hệ giữa lợi nhuận bất thường và tính thanh khoản của cổ phiếu với chỉ số tính đo lường tính thanh khoản khác nhau, nhóm tác giả tiến hành lần lượt thay biến độc lập \(LI{Q_i}\) bằng biến độc lập \(LI{Q_i}\), \(LI{Q_{i2}}\) và \(LI{Q_{i3}}\) lần lược được đại diện bằng các chỉ số thanh khoản là \(LogAvgVO{L_i}\), \(AvgTurnove{r_i}\) và \(LnILLI{Q_{inverse}}\) trong mô hình. Trong đó \(LogAvgVO{L_i}\) được tính bằng logarit của khối lượng giao dịch trung bình của cổ phiếu i trong giai đoạn [-100. -15]; \(AvgTurnove{r_i}\) được tính bằng giá trị trung bình Turnover của cổ phiếu i trong giai đoạn [-100, -15] và \(LnILLI{Q_{inverse}}\) được tính bằng cách logarit tự nhiên của \(ILLI{Q_{inverse}}\) của cổ phiếu i trong giai đoạn [-100, -15].

3.5 Dữ liệu nghiên cứu lợi nhuận bất thường

Ngày thông báo chia tách là ngày thông tin chia tách được SGDCK TP.HCM công bố ra công chúng. Nội dung thông tin chia tách; tỷ lệ chia tách, ngày chốt danh sách cổ đông và ngày giao dịch không hưởng quyền. Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu là các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM (HOSE) có thông báo chia tách cổ phiếu trong giai đoạn từ tháng 01/2007-5/2014. Dữ liệu không bao gồm các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm. Các quan sát phải đảm bảo giao dịch trước ngày thông báo chia tách cổ phiếu ít nhất 101 ngày và sau ngày thông báo chia tách là 100 ngày. Công ty có thông báo hia tách cổ phiếu nhiều lần, các lần thông báo chia tách phải cách nhau ít nhất 201 ngày giao dịch. Cuối cùng, mẫu có 251 quan sát đáp ứng được các yêu cầu trên.

Nguồn: Võ Xuân Vinh, Phan Thị Anh Thư. 2014. Lợi nhuận bất thường và tính thanh khoản của cổ phiếu đối với thông báo chia tách cổ phiếu: nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường Việt Nam. Công nghệ ngân hàng, số 105 (12/2014).

Trang trước 1 2 3 4
Xem thêm
Back to top button