Bài 13: Mẫu hình TSP Bướm – Butterfly TSP
Hướng dẫn cách xác định, thiết lập giao dịch
Mẫu hình TSP bướm là một dạng mẫu hình đảo chiều, có thể sử dụng trong khung thời gian nhỏ trong một xu hướng mạnh, gồm hai dạng mẫu hình giá lên và mẫu hình giá xuống.
Giới thiệu mẫu hình TSP bướm
Nội dung chính
Mẫu hình TSP bướm là một dạng mẫu hình TSP được khám phá bởi Gilmore và Larry. Sở dĩ được gọi là một mẫu hình TSP bướm vì nó là một biến thể của mẫu hình TSP với hình dạng con bươm bướm đang bay. Mẫu hình TSP bướm cho phép bạn tìm đáy và đỉnh đảo chiều trong các thị trường. Sự khác nhau giữa mẫu hình TSP bướm và TSP Gartley ở chổ điểm kết thúc D nằm giữa mức mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng X:A với mức mở rộng 0.618 và 0.786 ở mẫu hình Gartley. Mẫu hình TSP bướm có thể giao dịch như là một mẫu hình đảo chiều lớn (large reversal pattern) hoặc cho những khung thời gian nhỏ trong một xu hướng mạnh.
Mẫu hình TSP bướm có hai dạng là mẫu hình TSP bướm giá lên (Bullish TSP Butterfly) và mẫu hình TSP bướm giá xuống (Bearish TSP Butterfly). Cả hai mẫu hình này sẽ được giới thiệu chi tiết từ cách nhận dạng, nguyên tắc xác định điểm Long/Short cùng các ví dụ minh họa thực hành chi tiết. Đầu tiên là mẫu hình TSP bướm giá lên.
Mẫu hình TSP bướm giá lên
Quy tắc xác định điểm LONG
- X là điểm bắt đầu và là điểm thấp thứ 2 của mẫu hình TSP bướm giá lên. Nó được gọi là điểm neo để tính toán mức kết thúc mô hình tại điểm D.
- A là điểm cao nhất của mẫu hình.
- Điểm B lý tưởng nên nằm trong khoảng thoái lui 0.382 và 0.786 của sóng X:A. Yêu cầu bắt buộc là điểm B không được thấp hơn điểm X.
- Điểm C yêu cầu không được cao hơn điểm A. Một cách lý tưởng thì điểm C có thể chạm vào một trong bốn mức Fibonacci 0.382, 0.500, 0.618 hoặc 0.786 của sóng A:B.
- D là điểm tối quan trọng. Khi điểm C được xác định, giá giảm và giao dịch dưới điểm B thì chúng ta tính toán các mức mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng X:A. Điều này giúp xác định vùng hoàn thiện mẫu hình (pattern completion zone). Điểm D phải thấp hơn điểm X và là điểm thấp nhất trong toàn mẫu hình.

Tại D, nếu bạn nối những điểm sau theo tứ tự:
- X tới A
- X tới B
- A tới B
- B tới C
- B tới D
- C tới D
Bạn đã thấy bóng dáng của một chú bươm bướm đang bay?
6. Nhằm mục đích minh họa, tôi sẽ vào vị thế ở mức giá cao hơn mức giá cao ngày hôm trước
7. Điểm cắt lỗ ban đầu được đặt ngay bên dưới vùng Fibzone hỗ trợ.
8. Một nửa vị thế được chốt trong khoảng thoái lui 0.618 và 0.786 của sóng C:D
9. Nửa vị thế còn lại tại vùng mở rộng 1.272 của sóng A:D
Sự khác nhau giữa Bullish Butterfly TSP và Bullish Gartley TSP
- Điểm B ở mẫu hình Butterfly có thể thấp hơn so với Gartley
- Điểm D ở mẫu hình Butterfly nằm bên dưới điểm X, nằm trong vùng mở rộng 1.272 – 1.618 của sóng X:A. Ngược lại, điểm D ở mẫu hình Gartley nằm ở vùng thoái lui 0.618 – 0.786 của sóng X:A.
Ví dụ 1: Sử dụng mẫu hình TSP bướm xác định điểm LONG

- Điểm thấp X xác định trong tháng 4 tại mức 30.00.
- Giá tăng đến điểm A và hình thành một điểm sóng cao tại 36.85. Đây là điểm cao nhất trong mẫu hình.
- Giá giảm xuống điểm sóng thấp B tại 31.02 quanh mức thoái lui 0.786 của sóng X:A. Ở đây, B không thấp hơn X.
- Tại B, giá tăng hơn 6 điểm và hình thành điểm sóng cao C tại 35.66 quanh mức thoái lui 0.786 của sóng A:B. Ở đây, C cũng không vượt quá A.
- Sau 4 tuần, ZMH bị bán tháo 8 điểm và chạm vào vùng Fibzone hỗ trợ quanh mức 26.60 – 28.13. Ngày 24/6, ZMH chạm vào mức mở rộng 1.272 của sóng X:A chính thức hoàn thiện mẫu hình TSP bướm. Bây giờ, chúng ta tìm kiếm điểm vào LONG.
- Tôi đặt vị thế Long ngay khi giá chạm vào mức mở rộng 1.272 của sóng X:A.
- Điểm cắt lỗ được đặt ngay bên dưới vùng Fibzone hỗ trợ, quanh mức 26.60.
- Một nửa vị thế được chốt trong khoảng thoái lui 0.618 và 0.786 của sóng C:D.
- Nửa vị thế còn lại trong khoảng mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng A:D.

Một ví dụ khác sử dụng mẫu hình TSP bướm xác định điểm LONG

- Điểm thấp X xác định trong tháng 8 tại mức 21.30.
- Giá tăng đến điểm A và hình thành một điểm sóng cao tại 26.21. Đây là điểm cao nhất trong mẫu hình.
- Giá giảm xuống điểm sóng thấp B tại 21.93 quanh mức thoái lui 0.786 của sóng X:A. Ở đây, B không thấp hơn X.
- Tại B, giá tăng và hình thành điểm sóng cao C tại 24.35 quanh mức thoái lui 0.500 của sóng A:B. Ở đây, C cũng không vượt quá A.
- Sau 4 tuần, QQQ giảm 4 điểm và chạm vào vùng Fibzone hỗ trợ quanh mức 19.28 – 20.05. QQQ chạm vào mức mở rộng 1.272 của sóng X:A chính thức hoàn thiện mẫu hình TSP bướm tại giá 19.96. Bây giờ, chúng ta tìm kiếm điểm vào LONG.
- Điểm LONG được đặt quanh mức giá cao hơn mức giá cao ngày hôm trước, 20.50
- Điểm cắt lỗ được đặt ngay bên dưới vùng Fibzone hỗ trợ, quanh mức 19.25.
- Khi điểm D được hình thành, tôi tính các mức kháng cự cho biết giá có thể đối mặt với một áp lực bán mạnh. Một nửa vị thế được chốt trong khoảng thoái lui 0.618 và 0.786 của sóng C:D. Tại mức giá này, tôi dời điểm cắt lỗ của nửa vị thế còn lại lên mức hòa vốn để loại bỏ rủi ro hoặc dời lên mức giá thấp của ngày hôm trước để bảo toàn lợi nhuận.
- Nửa vị thế còn lại trong khoảng mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng A:D. Trong trường hợp này, tôi chốt lời ở mức 27.96 ứng với mức mở rộng 1.272 của A:D.

Mẫu hình TSP bướm giá xuống
Quy tắc xác định điểm SHORT

- X – điểm bắt đầu và điểm cao thứ nhì của mẫu hình TSP bướm giá xuống. Nó được sử dụng như là điểm neo để xác định điểm kết thúc D.
- A – điểm thấp nhất của mẫu hình.
- B – thông thường nằm trong khoảng thoái lui 0.382 và 0.786 của sóng X:A.
- C – không được cao hơn A và lý tưởng là chạm vào một trong ba mức thoái lui 0.500, 0.618 hoặc 0.786 của sóng A:B.
- D – điểm kết thúc mẫu hình. Khi điểm C được xác định, giá tăng và giao dịch ở phía trên điểm B. Chúng ta tính toán mức mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng X:A. Điều này cung cấp một mức xác nhận mẫu hình hoàn thành. Lưu ý, D phải cao hơn X.
- Nhằm mục đích minh họa, tôi sẽ vào vị thế ở mức giá thấp hơn mức giá thấp ngày hôm trước
- Điểm cắt lỗ ban đầu được đặt ngay bên trên vùng Fibzone kháng cự.
- Một nửa vị thế được chốt trong khoảng thoái lui 0.618 và 0.786 của sóng C:D
- Nửa vị thế còn lại tại vùng mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng A:D
Ví dụ 2: sử dụng mẫu hình TSP bướm để xác định điểm SHORT

- Điểm sóng thấp X xác định ở mức 15.52 trong biểu đồ 60 phút.
- Giá giảm từ điểm A và hình thành một điểm sóng thấp tại 15.04. Đây là điểm thấp nhất trong mẫu hình.
- Giá tăng và tạo điểm sóng cao B tại 15.35 quanh mức thoái lui 0.50 của sóng X:A. Ở đây, B không cao hơn X.
- Tại B, giá giảm và hình thành điểm sóng thấp C tại 15.17 quanh mức thoái lui 0.500 của sóng A:B. Ở đây, C cũng không thấp hơn A.
- CSCO tăng và chạm vào vùng Fibzone kháng cự quanh mức 15.60 – 15.85. CSCO chạm vào mức mở rộng 1.272 của sóng X:A chính thức hoàn thiện mẫu hình TSP bướm. Bây giờ, chúng ta tìm kiếm điểm vào SHORT.
- Điểm SHORT được đặt quanh mức giá thấp hơn mức giá thấp ngày hôm trước, 15.50
- Điểm cắt lỗ được đặt ngay bên trên vùng Fibzone kháng cự, quanh mức 15.85.
- Khi điểm D được hình thành, tôi tính các mức hỗ trợ cho biết giá có thể đối mặt với một áp lực mua mạnh. Một nửa vị thế được chốt trong khoảng thoái lui 0.618 và 0.786 của sóng C:D. Tại mức giá này, tôi dời điểm cắt lỗ của nửa vị thế còn lại lên mức hòa vốn để loại bỏ rủi ro hoặc dời lên mức giá cao của ngày hôm trước để bảo toàn lợi nhuận.
- Nửa vị thế còn lại trong khoảng mở rộng 1.272 và 1.618 của sóng A:D. Trong trường hợp này, tôi chốt lời ở mức 27.96 ứng với mức mở rộng 1.272 của A:D.

HỎI ĐÁP NHANH VỀ MẪU HÌNH TSB BƯỚM
- Hỏi: Liệu tôi có nên vào ngay khi mẫu hình hoàn thành tại điểm D.
- Đáp: Cá nhân tôi sẽ không vào ngay tại D, khi giá chạm mức mở rộng 1.272. Thông thường, tôi sẽ tìm một điểm kích hoạt (trigger) để vào. Chẳng hạn, trong mô hình giá lên, đó có thể là điểm giá cao của ngày hôm trước. Trong trường hợp này, điểm giá cao đóng vai trò là một điểm kích hoạt. Đây là một trigger đơn giản nhất. Các trigger phức tạp hơn sẽ được đề cập ở các phần kế tiếp.