Hướng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

2. Khung phân tích về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

2.1 Cơ sở lý thuyết

Về mặt lý thuyết, lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ vừa cùng chiều, vừa nghịch chiều. Các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển đã đặt nền tảng cho một vài lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Smith (1776) là người đặt nền tảng cho mô hình tăng trưởng cổ điển, dựa vào phía cung của nền kinh tế với hàm sản xuất có biến phụ thuộc là sản lượng (Y) là các biến độc lập bao gồm lao động (L), máy móc thiết bị (K) và đất đai (T), một cách tổng quát, hàm sản xuất có dạng: Y = f (L,K,T). Với lý thuyết này mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là quan hệ tỉ lệ nghịch: lạm phát tăng làm tăng chi phí của các nhà sản xuất và từ đó làm giảm sản lượng.

Mundell (1971) là một trong những người đầu tiên của trường phái Tân cổ điển đưa ra cơ chế mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng. Theo mô hình của Mundell lạm phát có quan hệ tỷ lệ thuận đối với tăng trưởng kinh tế. Có hai lý do được viện dẫn để bảo vệ quan điểm này. Một là, khi lạm phát tăng, luôn có độ trễ thời gian giữa tăng giá của sản phẩm ra và tăng giá của sản phẩm đầu vào, đặc biệt là độ trễ về tăng tiền lương. Khi tiền lương được giữ ổn định trong giai đoạn khá dài sẽ làm tăng lợi nhuận cận biên, tăng quỹ đầu tư và khích lệ khả năng đầu tư, tăng năng lực sản xuất của công ty và tăng trưởng kinh tế.

Hai là, lạm phát kéo theo việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư theo hướng có lợi nhiều hơn cho nhóm có thu nhập cao (nhóm này thường nắm giữ tài sản có lợi nhuận cao và thu nhập không phụ thuộc vào tiền lương). Nhóm thu nhập cao có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn, vì vậy khi có lạm phát dẫn tới tăng tiết kiệm và đây là nguồn vốn để tăng đầu tư, làm giảm lãi suất dẫn tới tăng trưởng kinh tế.

Mối quan hệ giữa các biến vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế

Keynes (1936) đã đưa ra một mô hình toàn diện hơn – mô hình đường tổng cung và đường tổng cầu (AD – AS) để kết nối lạm phát và tăng trưởng. Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng. Nghĩa là, muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ lạm phát và tăng trưởng di chuyển cùng chiều. Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi.

Lý thuyết tăng trưởng Keyenes mới bất nguồn từ trường phái Keyenes với việc đưa ra khái niệm về sản lượng tiềm năng. Mô hình Keyenes mới vận hành theo “cơ chế lạm phát nội tại” nghĩa là lạm phát gây nên bởi các biến nội sinh của nền kinh tế: (i) nếu chính sách kinh tế làm cho sản lượng vượt mức tiềm năng, các yếu tố khác không đổi, khi đó lạm phát sẽ tăng vì các nhà sản xuất sẽ tăng giá sản phẩm và lạm phát nội tại xấu hơn; (ii) nếu chính sách kinh tế làm cho GDP giảm xuống dưới mức tiềm năng, các yếu tố khác không đổi, khi đó lạm phát sẽ giảm vì các nhà sản xuất sẽ cố gắng sử dụng hết tiềm năng của nền kinh tế bằng cách giảm giá dẫn tới lạm phát giảm (thiểu phát); (iii) Nếu chính sách kinh tế giữ cho GDP đứng ở mức sản lượng tiềm năng và nền kinh tế không có các cú sốc từ phía cung, khi đó tỷ lệ lạm phát không thay đổi.

Sau khi xem xét nhiều quan điểm lý thuyết của các trường phái khác nhau, có thể thấy rằng mỗi trường phái có một quan điểm riêng, mô hình riêng để chứng minh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, điểm chung trong quan điểm của các trường phái là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là một chiều mà có sự tác động qua lại.

Trang trước 1 2 3 4 5Trang sau
Xem thêm
Back to top button