Tác động truyền dẫn của tỉ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam
1.2 Cơ chế truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến lạm phát
Nội dung chính
Trên cơ sở lý thuyết, những thay đổi của tỉ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến lạm phát qua hai kênh cơ bản là trực tiếp và gián tiếp. Cụ thể là khi tỉ giá hối đoái thay đổi sẽ ảnh hưởng đến giá trong nước thông qua sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Vì giá hàng nhập khẩu chịu tác động của giá trên thị trường thế giới và tỉ giá hối đoái. Do đó, khi giá thế giới không đổi thì tỉ giá hối đoái tăng sẽ làm giá hàng nhập khẩu tăng và ngược lại. Hàng nhập khẩu có thể là hàng phục vụ cho sản xuất, khi tỉ giá tăng sẽ làm cho chi phí nhập khẩu các yếu tố đầu vào tăng, dẫn tới chi phí sản xuất tăng, kết quả là sản phẩm đầu ra cũng phải tăng giá. Nếu là hàng nhập khẩu tiêu dùng, khi tỉ giá tăng các công ty nhập khẩu có thể tăng giá bán trên thị trường để phản ứng lại việc tăng chi phí nhập khẩu, kết quả là giá của hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng trong nước tính bằng đồng nội tệ cũng tăng lên. Như vậy sự biến động của tỉ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến lạm phát.
Cơ chế truyền dẫn trực tiếp của tỉ giá hối đoái đến lạm phát qua giá hàng nhập khẩu được phản ánh qua hình 1.

Hình 1: Truyền dẫn trực tiếp của tỉ giá đến lạm phát
Nguồn: Wattanakoon (2011)
2. Một số nghiên cứu thực nghiệm
2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Vấn đề truyền dẫn tỉ giá hối đoái đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thảo luận. Một số nghiên cứu điển hình sẽ được tóm lược trong phần này. Leigh và các tác giả (2002) sử dụng mô hình VAR nghiên cứu sự truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến các chỉ số giá tại Thổ Nhĩ Kì từ tháng 01/1994 – 4/2002. Kết quả cho thấy tác động của cú sốc tỉ giá đến các chỉ số giá kéo dài trên 1 năm và mức tác động mạnh nhất sau 4 tháng.
Cazorzi và các tác giả (2007) sử dụng mô hình VAR nghiên cứu truyền dẫn tỉ giá hối đoái ở 12 nước đang phát triển, kết quả là hệ số truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng ở các quốc gia này cao hơn so với những nước phát tiển và các nước có lạm phát ở mức một con số thì mức truyến dẫn tỉ giá hối đoái là khá thấp.
Nghiên cứu của Ito và Sato (2007) dùng mô hình VAR xem xét truyền dẫn tỉ giá hối đoái ở các nước thuộc khu vực Đông Á gồm Indonesia, Hàn Quốc, thái Lan, Philippine và Malaysia từ tháng 01/1994 – 12/2006. Kết quả cho thấy độ lớn mức truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng nhìn chung tương đối thấp ngoại trừ Indonesia.
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Cũng có nhiều nghiên cứu tương tự ở Việt Nam. Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005) ước lượng mối quan hệ giữa lạm phát và các yếu tố tác động theo phương pháp Granger trong giai đoạn 1994 – 2004. Kết quả là tỉ giá tăng 1% sẽ có xu hướng làm lạm phát tăng trên 0,13% ngay lập tức và 0,7% trong dài hạn.
Võ Văn Minh (2009) sử dụng mô hình VAR, dữ liệu từ tháng 01/2001 – 02/2007, kết quả cho thấy mức truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động đạt lớn nhất là 0,21 sau từ 10 đến 11 tháng có cú sốc tỉ giá hối đoái.
Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) sử dụng mô hình VECM và tìm thấy bằng chứng thuyết phục về truyền dẫn tỉ giá hối đoái vào lạm phát.
Tóm lại, các nghiên cứu trong nước về truyền dẫn tỉ giá hối đoái cho thấy mức ảnh hưởng của tỉ giá hối đoái vào lạm phát là khác nhau, đồng thời các nghiên cứu đều thực hiện trong khoảng thời gian tương đối ngắn, khoảng 10 năm trở lại và ít có nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp PPP theo kênh truyền dẫn trực tiếp.